Chúa Nhật tuần III Phục Sinh năm A (lễ 715 Antôn 2026)
(Emmaus)


Chuyện dấu chân trên cát

Một đêm kia, có một chàng trai đi vào giấc mộng. Chàng nằm mơ thấy mình được hân hạnh đi sánh vai với Chúa Giêsu trên một bãi biển thơ mộng. Trên bầu trời đầy trăng sao đang phản chiếu những hoạt cảnh vui buồn lẫn lộn qua từng giai đoạn của cuộc đời chàng.

Xuyên qua từng giai đoạn cuộc đời ấy, chàng chú ý thấy hai dấu chân in hằn trên bãi cát: một dấu chân bé nhỏ của chàng và dấu chân kia lớn hơn của Chúa Giêsu, Người Bạn Ðồng Hành.

Khi hoạt cảnh cuối cùng của đời chàng vừa chấm dứt, chàng quay đầu nhìn lại những dấu chân trên cát. Và chàng vô cùng ngạc nhiên khi thấy nhiều lần trong cuộc đời chỉ lưu lại một dấu chân duy nhất trên cát.

Chàng thanh niên mới hỏi: Lạy Chúa, những khi con đau khổ hoặc cô đơn thì con lại thấy chỉ có dấu hai bàn chân của một người thôi. Chúa lúc ấy đang ở đâu?

Chúa Gêsu ôn tồn trả lời: Này con, khi con gặp đau khổ, rủi ro, buồn chán, thất vọng muốn buông xuôi tất cả thì Cha đang vác con trên vai nên con chỉ thấy có một cặp dấu chân thôi .

Hai môn đệ chán nản, sợ hãi, chạy trốn ...
Chúa Giêsu hiện ra cùng đồng hành với họ
Dĩ nhiên là họ không nhận ra

Chúng ta hình dung ra dáng đi, vẻ mặt và tâm tình của hai người đang bỏ cuộc như thế nào.

Giữa bóng đêm của ngày đang qua và bóng tối đang phủ kín tâm trí họ, Chúa Giê-su Phục Sinh hiện ra đồng hành và “giải thích Kinh Thánh… bắt đầu từ Mô-sê và các tiên tri” (x. Lc 24, 27), làm cho tâm hồn họ “bừng cháy”.

Chúa đã nhóm lên một tia sáng, khơi lên niềm hy vọng, đưa họ ra khỏi bóng tối của buồn phiền và thất vọng, thức tỉnh lòng họ khao khát muốn được ở gần Người, khiến họ nài ép: “Mời ông ở lại với chúng tôi“, với lý do “vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn” (Lc 24, 29).

Họ không bao giờ nghĩ rằng người khách lạ ấy là chính Thầy mình sống lại. Với một hành vi “bẻ bánh ” đơn giản trong bữa ăn (Lc 24, 35), trí khôn được soi sáng, con tim được đốt nóng, những dấu chỉ bắt đầu gợi lên lòng sốt mến và thôi thúc họ “chỗi dậy trở về Giêrusalem ” (Lc 24, 33).

Sau khi nhận ra Chúa, hai môn không giữ niềm vui phục sinh cho riêng mình, mà chia sẻ với cộng đoàn. Đây là sứ vụ của mọi Ki-tô hữu hôm nay: nhận ra Chúa trong đời sống hằng ngày, rồi mang niềm vui và hy vọng phục sinh đến cho người khác, nhất là những ai đang cô đơn, đau khổ, hay thất vọng.

Câu chuyện Em-mau mời gọi chúng ta: Đừng chỉ nhìn vào thất bại hay nỗi buồn; Chúa vẫn đồng hành.

Hãy lắng nghe Lời Chúa và tham dự Thánh Thể để nhận ra Chúa và được biến đổi.

Như hai môn đệ Em-mau, chúng ta được mời hãy để Lời Chúa và Thánh Thể soi sáng, nâng đỡ và biến đổi chúng ta, để mỗi hành động yêu thương, phục vụ, và hy vọng của chúng ta trở thành dấu chỉ sống động cho sự hiện diện của Chúa Phục Sinh giữa thế giới hôm nay.

Và điều không quên là mỗi khi gặp cảnh cùng cực thì Chúa Giêsu Phục Sinh luôn có mặt bên cạnh, thậm chí còn vác chúng ta lên vai nữa.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Được cùng ăn cùng ở, cùng sống và cùng rao giảng Tin mừng với Chúa Giê-su trên các nẻo đường xứ Pa-lét-ti-na, các tông đồ và môn đệ tràn đầy niềm vui và hy vọng. Nhưng khi chứng kiến cảnh Chúa chịu chết và an táng trong mồ, các ông buồn sầu và thất vọng, tan tác và chia ly mỗi người mỗi ngả, tìm nơi ẩn nấp tránh khỏi sự truy sát của người Do-thái. Có người đã chạy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem về miền quê. Đó là hai môn đệ về làng Em-mau. Em-mau cách Giê-ru-sa- lem chừng 11 km.
Trên đường về Em-mau, hai môn đệ không đi một mình, có Chúa Giê-su tử nạn và phục sinh hiện ra đồng hành “cùng đi với họ” lắng nghe họ chia sẻ nỗi lòng, cắt nghĩa và giải thích lời các ngôn sứ cho họ, giúp họ tiếp cận với cách nhìn nhận và đánh giá về vụ việc “Chúa tử nạn” theo Thánh Kinh và lời các ngôn sứ, chứ không theo cái nhìn của thế gian, khiến lòng họ bừng cháy lên và mắt họ mở ra, để nhận biết Người qua cử chỉ bẻ bánh. Và khi đã nhận ra Người, họ lập tức quay trở về Giê-ru-sa-lem cùng với các tông đồ và môn đệ khác, đi khắp mọi nơi loan truyền rằng “Chúa đã sống lại từ trong cõi chết“.